Trang chủ  >  Đọc sách cùng bạn

Vần và Tứ trong thơ- 2
Thứ hai, 07/12/2015 | 8:08

NCL xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc cuốn "Vần và Tứ trong thơ" của nhà giáo- nhà thơ Đỗ Đình Tuân. Có thể coi đây là một cuốn cẩm nang hết sức cần thiết đối với những người yêu thơ và đang tập làm thơ.

2-       TỨ VÀ CẤU TỨ TRONG THƠ

Trong bình luận văn chương, nhất là trong lĩnh vực thơ ca, nhiều người đã sử dụng khái niệm "tứ thơ" nên mới nói đến chuyện "cấu tứ", "siêu cấu tứ", "cấu tứ lỏng"...Nhưng "tứ" là gì, "ý" khác "tứ" ở chỗ nào thì còn rất ít người chính thức bàn tới. Vì thế mà nhiều người yêu thơ, muốn tìm hiểu thơ ca thường nảy sinh thắc mắc. Có lần một bạn đọc đã hỏi trên báo chí và được một nhà thơ giải đáp đại ý "tứ là một dạng tồn tại cụ thể của ý". Đây là một gợi ý rất tốt để chúng ta có thể phân biệt giữa ý và tứ. Như vậy thì "ý" có tầm khái quát và trừu tượng hơn tứ. Nó chỉ tồn tại trong ý niệm con người. Còn "tứ" thì đã được hiện hình trong một hình ảnh, một biểu tượng có vai trò như một sinh thể. Hiểu thế thì có thể xem những câu "nước chảy đá mòn", "mài sắt nên kim"... là những "tứ" vì nó đều là những dạng tồn tại cụ thể của cái ý chung "lòng bền bỉ phấn đấu của con người có thể dẫn đến những thành công khác thường"; những câu " gần mực thì đen, gần đèn thì rạng", "ở bầu thì tròn, ở ống thì dài"... là những tứ của cái ý chung "hoàn cảnh và môi trường sống có ảnh hưởng đến con người"

Từ đây có thể suy ra cấu tạo của một "tứ thơ" bắt buộc phải có một "ruột ý" có vai trò như một "linh hồn" được gói trong một hình ảnh cụ thể làm thân xác và thực chất của việc làm thơ chính là quá trình hình thành và sáng tạo ra những "tứ thơ" chứ không phải chỉ thuần túy là việc diễn ý hay kể việc... Cái phần "thân xác" của tứ thơ thường cũng là những sự kiện, những hình ảnh của cuộc đời mà nhà thơ từng chứng kiến (hoặc do cuộc sống gợi ý mà tưởng tượng ra) và cái phần "linh hồn" cũng thường là những tâm sự, những nỗi niềm được tích tụ trong quá trình sống mà nhà thơ có nhu cầu muốn giãi bày chia sẻ.

 

Đọc một số bài thơ tình của Hoàng Cầm cũng có thể gỡ mở thêm được chút ít. Hoàng Cầm vốn là một thi sĩ vừa đa tài vừa đa tình. Khi còn rất ít tuổi đã dính vào một mối tình trái khoáy: yêu đơn phương một người con gái lớn hơn mình nhiều tuổi. Trong hồi ký của mình Hoàng Cầm viết: "Chị ấy tên là Vinh. Bố mất sớm, nhà rất nghèo. Chị ở cùng mẹ và một đứa em lên năm tuổi. Họ cất một gian nhà ở phố để bán hàng kiếm ăn. Suốt từ năm 8 đến 12, 13 tuổi, lúc nào đi theo chị được là tôi đi ngay, không rời nửa bước. Cũng nhờ đi theo chị, tôi mới có những kỉ niệm để sau này trở thành Lá diêu bông. Trong một buổi tối thanh niên, trai gái ở làng tụ họp nhau để hát đối, chị vịn lấy vai tôi mà hát. Rồi chị bảo bọn trẻ chúng tôi: "Đứa nào tìm được lá diêu bông, ta sẽ gọi là chồng". Nghe thấy thế, mặt tôi đỏ lên. Rồi một hôm nắng vàng giời lạnh, buổi chiều tha thẩn ra sân, tôi thấy chị đi ra phía cánh đồng liền cũng đi theo. Giữa đồng, chị một mình mê mải vạch từng cái lá, cành cây như đang tìm một cái gì đó. Tôi liền hỏi: "Chị Vinh ơi, chị tìm cái gì đấy?". Chị nhìn tôi đáp lời: "Ờ, chị đi tìm cái lá... (chị nói tên một cái lá gì như là lá thuốc)".

Câu chuyện tình ấy đã được Hoàng Cầm "thâm canh" trong nhiều bài thơ tình nổi tiếng của ông. Đầu tiên đó là bài Cây Tam cúc:

Cỗ bài tam cúc mép cong cong

Rút trộm rơm nhà đi trải ổ

Chị gọi đôi cây

Trầu cay má đỏ

Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em.

Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm

Em đừng lớn nữa Chị đừng đi

Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa

Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì.

 

Đứa được

Chinh chuyền xủng xoẻng

Đứa thua

Đáo gỡ ngoài thềm

Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ

Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em.

 

Năm sau giặc giã

Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ

Thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi

Em đứng nhìn theo Em gọi đôi.

 

Những kỷ niệm của Em về Chị còn tươi nguyên và ấm áp, cho dù kết thúc có xót xa. Ở đây Em vẫn còn dõi theo và tiếc chị. Nhưng đến Quả Vườn ổi thì câu chuyện kể khác:

Em mười hai tuổi tìm theo Chị

Qua cầu bà Sấm, bến cô Mưa

Đi...

ngày tháng lụi

tìm không thấy

Giải yếm lòng trai mải phất cờ

Cách nhau ba bước vào vườn ổi

Chị xoạc cành ngang

Em gốc cây

- Xin chị một quả chín!

- Quả chín..

quá tầm tay

- Xin chị một quả ương

- Quả ương

chim khoét thủng

Lẽo đẽo Em đi vườn mai sau

Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng.

Điểm nhấn của bài thơ không còn là những kỷ niệm tình yêu nữa mà đã là vị trí và thân phận khác nhau giữa Em và Chị. Chị vào vườn ổi trước, chị đỏng đảnh leo cao và xài những quả ngon. Còn Em thì chỉ được "Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng". Đến Lá Diêu bông thì chuyện kể lại càng khác:

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều

Cuống rạ

Chị bảo

Đứa nào tìm được Lá Diêu bông

Từ nay ta gọi là chồng

 

Hai ngày Em tìm thấy Lá

Chị chau mày

Đâu phải Lá Diêu bông

 

Mùa đông sau Em tìm thấy Lá

Chị lắc đầu

trông nắng vãn bên sông

 

Ngày cưới Chị

Em tìm thấy Lá

Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

 

Chị ba con

Em tìm thấy Lá

Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn

 

Từ thuở ấy

Em cầm chiếc Lá

đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu bông hời...

... ới Diêu bông...!

 

- Rét 1959 -

 

Vẫn là câu chuyện tình giữa Em và Chị, nhưng điểm nhấn ở Lá Diêu bông hình như lại là những "chiêu lừa" của Chị. Lợi dụng tình yêu của người Em chị đưa ra một lời hứa " Đứa nào tìm được Lá Diêu bông / Từ nay ta gọi la chồng". Nhưng đó chỉ là một lời hứa suông bởi trong thâm tâm người Chị vẫn coi như không có lời hứa ấy. Chị vẫn mặc nhiên đi lấy chồng và sinh con đẻ cái với người khác. Chỉ tội nghiệp cho người Em, vì yêu chị mà suốt đời lận đận thực hiện cho bằng được yêu cầu của Chị. Nhưng chả lần nào được người Chị chấp nhận. Lần thì Chị chau mày gắt gỏng, lần thì Chị lắc đầu lạnh nhạt, có lần Chị lại bật cười đến khó hiểu và cuối cùng thì Chị phủ nhận thẳng thừng và sạch trơn "Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn". Đến đây thì người Em đã hoàn toàn tuyệt vọng, thất thểu như dở điên dở dại, tay cầm chiếc Lá đi khắp đầu non cuối bể cất tiếng gọi cùng gió quê "Diêu bông hời... ới Diêu bông...!". Cái tiếng gọi ấy nghe như một tiếng kêu cầu cứu mà vô vọng. Có lẽ vì thế mà nó khá ám ảnh và vang động mãi trong tâm tưởng người đọc chăng?

Trong thực tế thơ ca ta thấy có rất nhiều những tứ thơ gần như diễn tả cùng một ý, chẳng hạn những câu:

-Yêu thì củ ấu cũng tròn

Không yêu thì quả bồ hòn cũng vuông

-Yêu nhau nghèo khó chẳng chê

Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng

-Không ưa thì dưa có ròi

-Lỗ mũi mười tám gánh lông

Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho...

Cái "ý trần" của cấc tứ này là "Yêu thì nên tốt, ghét thì nên xấu". Như vậy có nghĩa là từ một ý có thể sáng tạo ra nhiều tứ nếu như tìm được những hình ảnh mới thích hợp để diễn tả nó. Có thể gọi cách này là cách "Rượu cũ, bình mới". Không thiếu những tứ thơ đã được sáng tạo ra theo cách này. Chẳng hạn để diễn tả cái hiện tượng "những người thân quen, gần gũi dễ xem thường nhau hơn nên khó ảnh hưởng đến nhau" , tục ngữ đúc kết bằng những câu "Dao sắc không gọt được chuôi", "Bụt chùa nhà không thiêng". Đến thơ Trần Đăng Khoa ta lại thấy xuất hiện một tứ thơ mới trong bài Ghi chép về cây đèn dầu:

Lặng lẽ trên bàn mà cháy

Mà soi sáng xung quanh

Chỉ thương cây đèn ấy

Không sáng nổi chân mình.

Ngược lại ta cũng thấy trong thực tế thơ ca có rất nhiều những tứ thơ khác nhau nhưng vẫn có cái thân hình giống nhau. Chẳng hạn cùng một hình ảnh tằm với tơ, ca dao viết:

Dã sinh ra kiếp con tằm

Dẫu không nhả kén cũng nằm trong tơ

Những Truyện Kiều thì lại viết

Dù cho sông cạn đá mòn

Con tằm đến thác hãy còn vương tơ

Những tứ thơ này chỉ khác nhau trong nội dung ý nghĩa. Có thể gọi nó là kiểu "Bình cũ rượu mới". Theo cách này thì từ một hình ảnh quen thuộc vẫn có thể sáng tạo ra những tứ thơ mới nếu như ta biết thổi vào trong đó những ý nghĩa mới và mang sinh khí mới. Trong Chí Linh phong vật chí có giới thiệu một giai thoại kể về một cuộc xướng họa giữa sứ Tầu Mao Bá Ôn và quan trạng Giáp Trung. Mượn đề tài đám bèo Mao Bá Ôn thì viết:

Mọc theo ruộng nước dáng như kim

Từ trước chơi vơi gốc chẳng im

Không có củ thân không có lá

Dám sinh chi tiết dám sinh tim

Biết đâu tụ lại không khi tán

Chắc hẳn nổi lên có lúc chìm

Gặp lúc trời chiều cơn gió táp

Sớm vô hồ bể biết đâu tìm.

(Chưa rõ người dịch)

Còn Giáp Trung thì lại viết:

Vẩy gấm ken dầy khó lọt kim

Kết liền lá rễ vững và im

Thường cùng mây trắng tranh làn nước

Há để trăng thanh lọt đáy tim

Sóng đánh ngàn tầng mà chẳng vỡ

Gió đưa muôn trận vẫn không chìm

Cá rồng nhiều ít nương trong đó

Lã Vọng buông câu hết kế tìm.

(chưa rõ người dịch)

Thế là cùng một hình ảnh đám bèo nhưng sứ Tầu Mao Bá Ôn thì thổi vào đó cái thái độ ngạo mạn coi thường dân tộc việt và hàm chứa cả một lời đe dọa. Còn quan trạng Giáp Trung thì lại thổi vào đó cái khí phách kiên cường bất khuất, tinh thần đại đoàn kết dân tộc của con người Việt nam trước mọi cuộc xâm lăng. Cũng là cánh bèo, có lần Nguyễn Du đã mượn để diễn tả cuộc đời trôi nổi của Thúy Kiều sau mười lăm năm lưu lạc với một tâm trạng mệt mỏi muốn yên thân:

Nghĩ mình mặt nước cánh bèo

Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân

Bằng nay chịu tiếng vương thần

Thênh thang đường cái thanh vân hẹp gì.

Nhưng đến Phùng Cung thì nó còn lênh đênh ngay cả khi đã dạt vào ao cạn ? Chính sự phi lý này mới diễn tả một cách kỳ diệu cái nỗi đau cùng cực của phận người:

Lênh đênh muôn dặm nước non

Dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh

Từ một hình ảnh mà có thể sáng tạo ra nhiều tứ thơ hoàn toàn khác nhau là như vậy.

Nhưng quan trọng hơn vẫn là việc sáng tạo ra những tứ thơ hoàn toàn mới cả về ý vẫn về hình, nghĩa là "Rượu mới và bình cũng mới". Chỉ xin dẫn ra đây vài ví dụ nhỏ. Chẳng hạn như trong Bài Ca Vỡ Đất, Hoàng Trung Thông đã sáng tạo ra một tứ thơ ca ngợi sức lao động của con người rất đặc sắc:

Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

Trong ca dao xưa cũng từng có những tứ thơ nói về lao động: "Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần" nói lên giá trị của hạt gạo và sự vất vả của nghề nông sản xuất ra hạt gạo; hoặc "Đừng than phận khó ai ơi / Còn da lông mọc còn chồi nảy lông" nói niểm hy vọng lạc quan của con người lao động. Nhưng dù sao thì về sự bừng sáng và độ hàm súc vẫn khó sánh được với cái tứ thơ "sỏi đá cũng thành cơm".

Đọc thơ ca dân gian xưa thấy những tứ thơ nói về tình cảm vợ chồng thường chưa tương xứng với thực tế cuộc đời "Sống gửi thịt, thác gửi xương". Tình cảm của người chồng đối với người vợ thì chỉ là "nắng quái chiều hôm". Thậm chí còn chỉ là "cơm nguội đỡ khi đói lòng". Tình cảm của người vợ đối với người chồng cảm động hơn những cũng chỉ là mảnh chăn tấm áo của nhau thôi: " Áo xông hương của chàng vắt mắc / Đêm em nằm em đắp lấy hơi"...Nhưng đến Đôi Dép của Nguyễn Trung Kiên thì tình vợ chồng đã được gói ghém trong một tứ thơ mới lạ và tương xứng. Khai thác từ đặc điểm của đôi dép: tuy khác nhau "mỗi chiếc ở một bên phải trái", nhưng lại gắn bó bên nhau: "chẳng rời nhau nửa bước", cùng đồng cam cộng khổ "...sánh bước những néo đường xuôi ngược / Lên thảm nhung xuống cát bụi cùng nhau"... Chúng bình đẳng và phụ thuộc lẫn nhau để cùng tồn tại : "Số phận chiếc này phụ thuộc chiếc kia":

 

Hai mảnh đời thầm lặng bước song song

Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc

Chỉ còn một là không còn gì hết

Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia...

Những đặc điểm ấy sao mà tương đồng với tình cảm vợ chồng đến vậy:

Giống như mình trong những lúc vắng nhau

Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía

Dẫu bên cạnh sẽ có người thay thế

Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh

Tóm lại, một câu chuyện, một cử chỉ, một hình ảnh, một mùi hương... có ngụ tình và ngụ ý ở bên trong thì đều có thể tạo ra một tứ thơ mới. Chẳng hạn ở Hương Thầm, Phan Thị Thanh Nhàn đã khéo léo ngụ vào trong mùi thơm hoa bưởi một câu chuyện tình rất Việt Nam và rất thời chống Mỹ. Ngay từ đầu, cái "ngan ngát hương đưa" dường như cũng đã nhiễm một chút tình ý rồi:

Cửa sổ hai nhà cuối phố

Không hiểu vì sao không khép bao giờ

Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp

Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa

Rồi đến ngày người con trai ra trận. Người con gái thấy mình không thể vắng mặt và đã gửi lòng mình vào một chùm hoa bưởi:

Dấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay

Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm

Bên ấy có người ngày mai ra trận.

Không vắng mặt, nhưng tình yêu thì vẫn ủ kín không bộc lộ:

Nào ai đã một lần dám nói

Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối

Anh không dám xin

Cô gái chẳng dám trao

Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao

Không dấu được

Cứ bay dịu nhẹ.

Nhưng hình như càng dấu diếm nhau thì họ lại càng nhận ra nhau đến tận cùng hơi thở:

Rồi theo cùng hơi thở của anh

Hương thơm ấy

thấm sâu vào lồng ngực

Anh lên đường

hương sẽ theo đi khắp

Thế là lời thì chưa ngỏ, nhưng tình thì đã trao và đã nhận:

Họ chia tay, vẫn chẳng nói điều chi

Mà hương thầm theo mãi bước người đi.

Hương thầm nhưng chính là tình thầm. Tình thầm nhưng lại vô cùng ngào ngạt, lan tỏa và thấm sâu...Tứ thơ Hương thầm cứ man mác khắp bài thơ y như sự lan tỏa của hương thơm hoa bưởi vậy, vừa độc đáo, vừa kỳ diệu, giầu thi vị đến lạ lùng. Thơ là sự thăng hoa của cuộc sống, của tình đời, tình người có lẽ là như vậy đây chăng?

Cũng là kể chuyện, nhưng trong Viếng Chồng Trần Ninh Hồ lại cô đúc tứ thơ vào trong một chi tiết. Bài thơ kể chuyện một người vợ liệt sĩ đi viếng mộ chồng. Chị mang từ quê đi một vòng hoa. Cố nhiên là định để dặt lên mộ chồng. Nhưng đến nơi thì bên cạnh mộ anh lại có mộ một đồng đội nữa. Tình huống này đã đặt ra trong chị một sự lựa chọn "đặt vòng hoa trên nấm mộ nào cho đẹp?". Và chị đã đặt vòng hoa lên mộ người đồng đội nằm bên cạnh mộ chồng. Cử chỉ này của chị đã khiến anh chiến sĩ đưa đường tưởng chị đặt nhầm nên mới nhắc nhở:

 

Mộ anh ấy ở bên tay trái

Chỉ có một vòng hoa chị mang từ quê lại

Hoa viếng mộ bên này đã có chúng tôi.

Nhưng chị đã giải thích ngay:

-Chị hiểu ý em rồi

Xin cho chị đặt hoa trên mộ đó

Cả cánh rừng chỉ có hai ngôi mộ

Viếng mộ anh có chị đến đây rồi.

Đến đây thì người đọc vụt nhận ra tấm lòng nhân ái giàu sẻ chia của chị. Không ít người đã rưng rưng nước mắt vì xúc động và cảm phục. Sau cử chỉ này chị bỗng biến thành HOA, không chỉ là bông hoa riêng viếng mộ chồng mà còn là bông hoa lung linh trong tâm trí người đọc.

Trên đây chỉ là loáng thoáng vài ví dụ về những cách cấu tứ đã từng thấy trong thơ. Cố nhiên là không thể nào đầy đủ được. Nhưng điều quan trọng là nó gợi ý ra một số cách tìm tòi, gỡ mở các tứ thơ khi thưởng lãm. Còn với người làm thơ, thì cái "cú hích" ban đầu để họ làm thơ chỉ là cảm hứng. Nói như Huy Cận thì " Trước hết là một nỗi niềm, ùn ùn trước ngực, rạo rực tâm hồn". Lúc ấy chính là những cơ hội để "ý" có thể gặp "hình" mà hình thành ra tứ thơ. Rồi sau đó tứ sẽ tìm lời, tìm chữ. Tức là "câu chữ đến sau, lời sẽ đến sau" (Huy Cận). Cảm hứng có thể là kết quả của một quá trình tích lũy dần dà, đến một lúc nào đó đủ độ chín thì nó xuất hiện. Cũng có thể chỉ do một gặp gỡ ngẫu nhiên nào đó mà tức thời bùng phát. Nó cũng giống như tình yêu trai gái vậy. Có những mối tình thì phát sinh theo kiểu "lửa gần rơm lâu ngày cũng bén". Nhưng cũng có không ít những mối tình lại chỉ qua một ánh nhìn thoát kiến là lập tức đã thành bền chặt không rời nhau được nữa.

ĐỖ ĐÌNH TUÂN

Thống kê truy cập

Số người online : 198

Số lượt truy cập : 13943017