Trang chủ  >  Đọc sách cùng bạn

Vần và Tứ trong thơ- 8
Thứ hai, 21/12/2015 | 7:07

NCL xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc cuốn "Vần và Tứ trong thơ" của nhà giáo- nhà thơ Đỗ Đình Tuân. Có thể coi đây là một cuốn cẩm nang hết sức cần thiết đối với những người yêu thơ và đang tập làm thơ.

 MẤY KINH NGHIỆM NHỎ VỀ LÀM THƠ ĐƯỜNG LUẬT- Kỳ 1

Trong các thể thơ truyền thống thì thể thơ Đường Luật có những quy định chặt chẽ và hoàn chỉnh hơn cả. Những quy định ấy lại tập trung biểu hiện rõ nhất trong thể thơ Thất ngôn bát cú. Cho nên nói đến thơ Đường Luật hầu như người ta chỉ nói đến thể thơ này. Người xưa rất coi trọng thể thơ Thất ngôn bát cú Đường Luật nên đã đưa vào chương trình học và lấy làm một môn thi bắt buộc. Vì thế hầu hết các nho sinh ngày xưa đều biết làm thơ Đường luật đúng cách.

Nhưng từ phong trào Thơ Mới, thể thơ Đường Luật bị phê phán là gò bó, không còn thích hợp với thời đại mới nữa, không đủ khả năng chuyển tải những tâm trạng phức tạp cũng như phản ánh những hiện thực cuộc sống phong phú và đa dạng nữa. Trên văn đàn vì thế tuy vẫn còn một vài tác giả trung thành với thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật, nhưng nhìn chung nó bị các nhà thơ đương thời lìa bỏ, coi như một thứ đồ ổ, không dùng để sáng tác nữa Mãi gần đây cùng với sự phát triển ào ạt của các CLB thơ mọc ra như nấm, thể thơ Thất ngôn bát cú Đường Luật tự nhiên lại được tôn vinh. Trong tâm lý của rất nhiều cụ hội viên CLB cứ phải làm được thơ Đường thì mới giỏi, còn nếu chỉ chắp vần được mấy câu Lục bát là xoàng. Nhu cầu muốn tìm hiểu và tập làm thơ Thất ngôn bát cú Đường Luật vì thế cũng hơi bị nhiều. Trong tình hình ấy, chúng tôi xin mạnh dạn đem một vài kinh nghiệm nhỏ của mình trao đổi cùng các thi huynh, thi đệ, thi tỷ, thi muội…Nếu có đóng góp được chút xíu gì thì rất lấy làm mừng.

1.     Kinh nghiệm thư nhất là phải nắm vững niêm luật thơ Đường.

a/ Trước hết nói về Niêm (粘): chữ niêm này có nghĩa là kết dính, là

dán như trong các từ “niêm phong”, “niêm yết”. Nhưng nghĩa thực tế của nó là: hai câu thơ gần nhau có bắng trắc giống nhau, vì giống nhau nên xem nó như dính vào nhau để tạo thành một “cặp niêm”. Như vậy trong một bài Thất ngôn bát cú Đường Luật sẽ phải có 4 cặp niêm như sau:

                   Cặp 1: câu 1+câu 8

                   Cặp 2: câu 2+câu 3

                   Cặp 3: câu 4+câu 5

                   Cặp 4: câu 6+câu 7

Nếu ta bố trí 8 câu theo 8 hướng  câu 1 ở chính Bắc, câu 2 ở Đông Bắc… câu 8 sẽ ở vào vị trí Tây Bắc. Ta sẽ nhìn rõ các câu thơ gần nhau dính nhau rõ ràng hơn.

Lưu ý một điều là các cặp niêm trong bài thơ Thất ngôn bát cú Đường luật có vị trí so le với các cặp Đề-Thực-Luận-Kết:

          Cặp đề: câu 1+câu 2

          Cặp thực: câu 3+câu 4

          Cặp luận: câu 5+câu 6

          Cặp kết: câu 7+câu 8

b/Còn Luật là một khái niệm rất rộng, bao gồm tất cả những quy định bắt buộc về vần, về bằng trắc (âm thanh) về đối, về kết cấú.

          -Về vần: phổ biến trong thơ bát cú là 5 vần ở chữ cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8. Vần có thể là thanh bằng, cũng có thể là thanh trắc. Nhưng trong thực tế thơ ca Việt Nam thì vần mang thanh bằng phổ biến hơn.

          -Về Bằng-Trắc thường đươck mô hình hóa theo hai thể hởi bắng và khởi trắc. Nếu chữ thứ hai câu thứ nhất mang thanh bằng thì bài thơ ấy theo thể khởi bắng. các tiếng bắng, tiếng trắc của bài thơ phải bố trí theo như mô hình sau:

               MÔ HÌNH THỂ KHỞI BẰNG

 

 Ví dụ về bài làm theo thể khởi bằng (tiếng thứ 2 câu 1 là thanh bằng)

 

                         Thu Điếu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

                         Nguyễn Khuyến

 

              MÔ HÌNH THỂ KHỞI TRẮC 

 Ví dụ về bài thơ làm theo thể khởi trắc(tiếng thư 2 câu 1 là thanh trắc)

 

                      Qua đèo Ngang

Bước tới đèo ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá đá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái da da

Dừng chân ngoái lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

                     Bà huyện Thanh Quan

Nhưng khi vận dụng các mô hình này cần chú ý câu:

          Nhất tam ngũ bất luận

          Nhị tứ lục phân minh

Có nghĩa là bắng chắc của các tiếng thứ nhất, thứ ba, thứ năm trong câu thơ thất ngôn có thể được tùy tiện linh hoạt không nhất thiết phải theo như trong mô hình. Còn bắng trắc của các tiếng thứ hai, thứ tư và thứ sáu thì nhất định phải theo.

Về Đối : bắt buộc hai cặp thực và luận trong bài bát cú phải là hai cặp đối. Trong phép đối quan trọng nhất là phải đối nhau về thanh điệu. còn về ý có thể đối nhau (tương phản) cũng có thể không đối nhau (tương đồng).  Riêng về cách cấu tạo từ và chức năng ngữ pháp của các từ đối nhau thì phái như nhau. Nói gọn lại là phải cùng từ loại: danh đối với danh; động đối với động; tính đối với tính…Nhưng ở chỗ này lại rất cần phải nói thêm là trong tiếng Việt từ loại của các từ trong các văn cảnh cụ thể thường có sự hoán đổi cho nhau chứ không cố định. “cơm” vốn là danh từ chỉ món “gạo luộc” nhưng “cơm” cũng có thể thành động từ tương đương như từ “ăn” vậy (Cơm chưa ?- Cơm rồi !). Cũng tương tự tính có thể thành động, tính có thể thành danh… cho nên xét từ loại cũng là xét từ laoij cụ thể ở trong câu chứ không thể máy móc được.

-Về Kết cấu bài thơ thường quy định:

          + Hai câu đề (câu 1+2): Nêu vấn đề

          + Hai câu thực (câu 3+4): Nêu cụ thể nội dung vấn đề hoặc tả thực phong cảnh hoặc sự vật…

          + Hai câu luận (câu 5+6): bình luận, đánh giá hoặc mở rộng thêm vấn đề, mô tả bối cảnh bên ngoài cảnh thực trung tâm…

          + Hai câu kết (câu 7+8): gói lại và kết thúc vấn đề

Trong thực tế thơ ca vấn đề kết cấu này cũng được hiểu một cách rất tương đối và có khá nhiều chủ thuyết cho nên việc vận dụng cũng khá linh hoạt. Bám sát với kết cấu trên đây tiêu biếu nhất có lẽ là bài Ông nghè tháng tám của Nguyễn Khuyến:

Cũng cờ cũng biển cũng cân đai

Cũng gọi ông nghè có kém ai

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng

Nét son điểm rõ mặt văn khôi

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ

Cái giá khoa danh ấy mới hời

Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi.

(Còn nữa)

ĐỖ ĐÌNH TUÂN

Thống kê truy cập

Số người online : 129

Số lượt truy cập : 12474552