Trang chủ  >  Đọc sách cùng bạn

Vần và Tứ trong thơ- 10
Thứ sáu, 25/12/2015 | 11:11

NCL xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc cuốn "Vần và Tứ trong thơ" của nhà giáo- nhà thơ Đỗ Đình Tuân. Có thể coi đây là một cuốn cẩm nang hết sức cần thiết đối với những người yêu thơ và đang tập làm thơ.

      TẢN MẠN VỀ THƠ TỰ DO- Kỳ 1

Khi tìm hiểu về thơ tự do tôi nhận ra một điều là tự do không phải là không có luật mà tự do chỉ có nghĩa là một sự vận dụng linh hoạt các cách luật. Cũng có thể nói tự do chỉ là một dạng tổng hợp luật, đa luật hoặc tạp luật mà thôi. Vậy là trong các hình thức thơ ca tính tự do không hề có dính líu gì với tính bừa bãi vô chính phủ mà chỉ quan hệ với tính linh hoạt và tính tổng hợp mà thôi. Thơ lục bát có tính tổng hợp cao nên tính tự do linh hoạt của nó cũng khá rộng mở. Nhưng dù có tự do, có linh hoạt đến mấy thì lục bát vẫn là một thể thơ cách luật. Nghĩa là vẫn có một quy luật chủ đạo chi phối nó để tạo ra cho nó một dạng thức cân bằng và ổn định. Còn thơ tự do, thơ tạp luật thì không. Nó không có một dạng thức ổn định nào hết. Câu ngắn với câu dài, vần chân với vần lưng…cứ tự do mà gắn kết. Thậm chí còn phá bỏ cả vần, chí dùng có nhịp điệu.

Thực ra thì thơ tự do cũng chẳng phải là một thể loại mới mẻ gì. Từ những ngày xa xưa đã từng có một lối thơ gọi là  Trường đoản cú( thơ câu dài, câu ngắn) rất giống với lối thơ tự do ngày nay. Dấu tích chúng ta còn có thể thấy được chính là bản Chinh phụ ngâm nổi tiếng của Đặng Trần Côn. Dưới đây là mấy câu trong đoạn mở đầu:

Thiên địa phong trần

Hồng nhan đa truân

Du du bỉ thương hề, thuỳ tạo nhân

Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt

Phong hoả ảnh chiếu Cam Tuyền vân

Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch

Bán dạ phi hịch truyền tướng quân

Thanh bình tam bách niên thiên hạ

Tùng thử nhung y thuộc vũ thần

Sứ tinh thiêm môn thôi hiểu phát

Hành nhân trọng pháp khinh li biệt

Cung tiễn hề tại yêu

Thê noa hề biệt khuyết

(Nguyên tác của Đặng Trần Côn)

 

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm từng trên

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?

Trống Tràng Thành  lung lay bóng nguyệt,

Khói Cam Tuyền  mờ mịt thức mây.

Chín lần gươm báu trao tay,

Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

Nước thanh bình ba trăm năm cũ,

Áo nhung  trao quan vũ từ đây.

Sứ trời sớm giục đường mây,

Phép công là trọng niềm tây  sá nào.

Đường rong ruổi lưng đeo cung tiễn,

Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa

(Bản dịch của Đoàn Thị Điểm)

Lời của những bài Hát nói (tức hát Ca trù  hoặc Ả đào), ngoài việc viết theo lối Trường đoản cú còn thấy xen lẫn cả Hán với Nôm nữa. Chẳng hạn như bản Bài ca lưu biệt của cụ Huỳnh Thúc Kháng:

Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết

Người ở đời đâu khỏi tiết nguy nan

Đấng trượng phu tùy ngộ nhi an

Tố hoạn nạn hoành hồ hoạn nạn

Tiền lộ định tri thiên hữu nhãn

Thâm tiêu do hứa mộng hoàn gia

Bấy nhiêu năm cũng vẫn chưa già

Nọ núi Ấn, này sông Đà

Non sông ấy còn chờ ta thêu dệt

Kìa tán tụ chẳng qua là tiểu biệt

Ngựa tái ông họa phúc biết về đâu!

Một mai kia con tạo khéo cơ cầu

Thảy bốn biển cũng trong vòng trời đất cả

Ư bách niên trung tu hữu ngã

Dẫu đến lúc núi sụp, biển lồi, trời nghiêng, đất ngả

Tấm lòng vàng tạc đá vẫn chưa mòn

Trăng kia khuyết đó lại tròn

                                  1908

Nhưng phải đến thời đại chúng ta thì Trường đoản cú và Hát nói mới được hiện đại hóa thành thơ tự do và được sử dụng rất phổ biến. Hầu như không có nhà thơ nào không có những bài thơ tự do  thành công. Do yêu cầu của thời đại nên dòng thơ tuyên truyền, thơ thời sự chính trị được ưu tiên số một. Có rất nhiều chính khách đồng thời là nhà thơ nhưng người khai mở thì vẫn là Hồ Chí Minh. Năm 1941, Người từ Trung Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người thành lập mặt trận Việt Minh và viết hàng loạt bài ca tuyên truyền vận động cách mạng, trong đó có Bài ca du kích:

Ào, ào, ào...

Ào, ào, ào...

Già nào

Trẻ nào

Lính nào

Dân nào

Đàn ông nào

Đàn bà nào!

Kẻ có súng dùng súng

Kẻ có dao dùng dao

Kẻ có cuốc dùng cuốc

Người có cào dùng cào

Thấy Tây cứ chém phứa

Thấy Nhật cứ chặt nhào.

Chúng nhiều là mấy vạn

Ta mấy triệu đồng bào

Chúng đường xa mỏi mệt

Mình "dĩ dật đãi lao"

Làm cho chúng mòn mỏi

Làm cho chúng tiêu hao

Chúng nhất định thất bại

Mình sức càng dồi dào

Ào, ào, ào...

Ào, ào, ào...

Du kích ngày càng mạnh

Du kích ngày càng cao

Ào, ào, ào...

Ào, ào, ào...

                        1942

Bài thơ in rất đậm phong cách Hồ Chí  Minh, nghĩa là rất giản dị, dễ hiểu, vấn đề thì nghiêm túc nhưng giọng điệu thì vẫn cứ dí dỏm vui vui rất thân tình và gần gũi với quần chúng. Bên cạnh Hồ chí Minh thì Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy… cũng đều làm thơ chính trị. Nhưng “có nghề” và nổi tiếng hơn cả là Tố Hữu. Tố Hữu có thời kỳ từng được suy tôn là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Ông thành công ở rất nhiều thể loại kể cả với thơ tự do.Thơ ông bám rất sát với những bước đi của cách mạng Việt Nam. Ta cướp chính quyền ở Huế thì ông có Huế tháng Tám vui như đến vỡ ngực nổ trời:

Ngực lép bốn nghìn năm trưa nay cơn gió mạnh

Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời

Có con chim nào trong tóc nhảy nhót hót chơi

Ha! Nó hát cái gì vui vui nghe thiệt ngộ!

Gió ơi gió! Hãy làm giông làm tố

Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi

Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi!

Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác

Ôi thiên đường! Tai miên man lắng nhạc

Từ muôn phương theo gót nện rầm rầm

Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam muôn năm!

                                           1945

            Ta chiến thắng ở Điện Biên Phủ, thì ông cũng có ngay Hoan hô chiến sĩ Điện Biên:

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên

Chiến sĩ anh hùng

Đầu nung lửa sắt

Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

Máu trộn bùn non

Gan không núng

Chí không mòn!

Những đồng chí thân chôn làm giá súng

Đầu bịt lỗ châu mai

Băng mình qua núi thép gai

Ào áo vũ bão,

Những đồng chí chèn lưng cứu pháo

Nát thân, nhắm mắt, còn ôm

Những bàn tay xẻ núi, lăn bom

Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện…

            Rồi khi ta về tiếp quản thủ đô tháng 10/1954, Tố Hữu cũng có ngay bài Ta đi tới. Ta đi tới chính là khúc khải hoàn ca của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp(1946-1954. Bài thơ sang sảng một niềm vui chiến thắng tự hào:

Ờ đã chín năm rồi đấy nhỉ

Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ

Bắp chân đầu gối vẫn săn gân

Ngẩng đầu lên: trong sáng tuyệt trần

Tháng Tám mùa thu xanh thẳm

Mây nhởn nhơ bay

Hôm nay ngày đẹp lắm!

Mây của ta, trời thắm của ta

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa!

Đã tan tác những bóng thù hắc ám

Đã sáng lại trời thu tháng Tám

Trên đường ta về lại Thủ đô

Cờ đỏ bay quanh tóc bạc bác Hồ!

            Nhưng đó lại chưa phải là một chiến thắng trọn vẹn. Tổ quốc Việt Nam vẫn tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Có lẽ vì thế mà ở phần cuối bài thơ, tuy vẫn đinh ninh một niềm tin tất thắng, nhưng trong giọng điệu vẫn đau đáu một nỗi niềm xa xót, nhớ thương:

Ai đi Nam Bộ

Tiền giang, Hậu Giang

Ai vô thành phố

Hồ Chí Minh

Rực rỡ tên vàng

Ai về thăm bưng biền Đồng Tháp

Việt Bắc miền Nam, mồ ma giặc Pháp

Nơi chôn rau cắt rốn của ta

Ai đi Nam-Ngãi, Bình-Phú, Khánh Hòa

Ai lên Tây Nguyên, Công Tum, Đắc Lắc

Khu Năm dằng dặc khúc ruột miền Trung

Ai về với quê hương ta tha thiết

Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng…

                                       8/1954

            Và phải chờ đợi 21 năm sau, với rất nhiều hy sinh xương máu nữa ta mới có được niềm vui toàn thắng:

Tôi lại nhìn như đôi mắt trẻ thơ

Tổ quốc tôi. Chưa đẹp thế bao giờ

Xanh núi, xanh sông, xanh đồng, xanh biển

Xanh trời, xanh của những ước mơ…

 

Tôi bay giữa màu xanh giải phóng

Tầng thấp, tầng cao, chiều dài, chiều rộng

Ôi Việt Nam! Yêu suốt một đời

Nay mới được ôm Người trọn vẹn, Người ơi!

                         (Vui thế hôm nay, 8/1975)

 

Nhưng thơ Tố Hữu thường nói ở tầm “vĩ mô”. Các nhà thơ khác nói “vi mô” hơn. Mỗi người trong số họ cũng khai phá một vùng đất sáng tạo riêng và gặt hái những thành công của mình. Nhưng chủ đề đất nước và cuộc đời người lính được tập trung biểu hiện hơn cả. Đó cũng là một lẽ rất tự nhiên. Cả dân tộc đứng lên giành độc lập. Người lính  lại đứng trên tuyến đầu của mặt trận ấy. Ai mà không yêu quý và nể trọng? Trong đời thực là thế và trong văn chương càng như thế. Ngoài Nhớ máu của Trần mai Ninh, Nhớ của Hồng Nguyên, Tây Tiến của Quang Dũng,…thì có lẽ  Đồng chí của Chính Hữu cũng là một tiêu biểu:

 

Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

 

Hoàng Cầm có những câu thơ cực kỳ về quê hương trong Bên kia sông Đuống:

 

Em ơi! Buồn làm chi

Anh đưa em về sông Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ

Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ

Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông sao nhớ tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay

Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm đồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Và Đất nước hiện ra trong thơ của Nguyễn Đình Thi cũng thật đẹp và rất đỗi tự hào:    

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha!

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm ngát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về!    

Hoàng Trung Thông  gần như một mình một ngựa đi vào chủ đề lao động sản xuất và viết Bài ca vỡ đất nổi tiếng một thời.

Chúng ta đoàn áo vải

Sống cuộc đời rừng núi bấy nay

Đồng xanh ta thiếu đất cày

Nghe rừng lắm đất lên đây với rừng.

 

 Trong Bài ca vỡ đất có những câu thơ ca ngợi sức lao động của con người thật đặc sắc: “Bàn tay ta làm nên tất cả / Có sức người sỏi đã cũng thành cơm”. Câu thơ đã làm nên tên tuổi Hoàng  Trung Thông. Nó gần như đã thoát ly khỏi bài thơ và sống một cuộc đời tự lập. Cứ nhắc đến Hoàng Trung Thông thì người ta dễ nhớ đến câu thơ này và ngược lại. Thậm chí, chỉ mới nhắc tới chủ đề lao động thôi, thì câu thơ đầu tiên người ta dễ  nhớ đến cũng chính là cái câu thơ này. Dưới đây xin trích cái đoạn có chứa câu thơ bất hủ ấy:

 

Cho dù bạc áo nông binh

Vẫn còn vỡ đất cấy xanh núi đèo.

Chim reo trong lá

Hòn đá cheo leo.

Chúng ta một lớp người nghèo.

Giữa chiều nắng gió

Đào cây cuốc cỏ,

Tỉa đỗ trồng khoai.

Ngày còn dài

Còn dai sức trẻ.

Cuốc càng khỏe,

Càng dễ cày sâu.

Hát lên ta cuốc cho mạu

Nhanh tay ta cuốc ta đào đất lên.

Bàn tạy ta làm nên tất cả.

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

                                               1948

Thơ tình thì thời nào cũng khổ, cũng những buồn, những nhớ cùng thương. Nhưng thơ tình thời chiến tranh thì càng phải chịu đựng và mất mát nhiều hơn vì nó thường phải gắn với “Sinh ly” hay “tử biệt:

 

Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh

Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây

Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh

Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây.

                           (Nhớ-Nguyễn Đình Thi)

 

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

Áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

Đèn khuya

Bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa…

Chiều hành quân

Qua những đồi sim

những đồi sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

                      (Màu tím hoa sim-Hữu Loan)

(Còn nữa)

ĐỖ ĐÌNH TUÂN

Thống kê truy cập

Số người online : 117

Số lượt truy cập : 12209631