Trang chủ  >  Đọc sách cùng bạn

Vần và Tứ trong thơ- 12
Thứ tư, 30/12/2015 | 5:05

NCL xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc cuốn "Vần và Tứ trong thơ" của nhà giáo- nhà thơ Đỗ Đình Tuân. Có thể coi đây là một cuốn cẩm nang hết sức cần thiết đối với những người yêu thơ và đang tập làm thơ.

TẢN MẠN VỀ THƠ TỰ DO- Kỳ 3

Bây giờ thì người Kinh ta rất khó học lại được sự hồn nhiên, chất phác của người dân tộc. Nhưng ở vào thời tiền sử, tổ tiên ta cũng đã có một thời cũng hồn nhiên, chất phác như thế. Những dấu tích bằng thơ văn thì đã không còn nhưng dấu tích trong tín ngưỡng dân gian thì vẫn còn tục thờ sinh thực khí, có hội nõ nường ở vùng Phú Thọ.

Ở Trấn Yên (Yên bái) ta còn tìm thấy Thạp đồng Đào Thịnh:

Giữa đàn chim trải rộng cánh bay

                                Nam nữ giao hoan trên nắp thạp

Thạp đựng gì? Đựng xương người chết rồi

                                Còn nhớ cuộc giao hoan

Sống trên nắp thạp, chết về trong đáy thạp

Buồn làm chi? Cuộc sống sẽ tuần hoàn.

(Thạp đồng Đào Thịnh)

Chế Lan Viên viết về cái thời hồn nhiên ấy nhưng thơ ông thì đâu còn hồn nhiên nữa. Ông nổi tiếng là một nhà thơ kỹ tính trong sáng tác. Ông khao khát một thứ thơ tỉnh táo, tinh khiết và cao diệu:

Tôi thèm những câu thơ lạnh lẽo của Bắc Băng Dương hay Nam Cực

Rét buốt

Trắng muốt

Rơi ra ngoài mà tiềm ẩn những gì không ai hiểu hết

Tâm hồn hiểu nó phải lên điểm cực

Đứng trước nó như trước tôn giáo thiêng liêng

(Ảo tưởng)

Suốt đời ông đã luôn tìm tòi, đào bới, cách tân để đi tìm cái mới cho thơ. Dù vậy, ông cũng chưa bao giờ bỏ rơi bạn đọc bằng một thứ thơ đánh đố, đọc chỉ toàn thấy có nhức đầu. Thơ ông luôn kết hợp được hai yếu tố nghĩ ngợi và cảm xúc nên đọc thơ ông, ta có thể chưa hiểu được ngay song vẫn thích, vẫn muốn đọc. Đọc thơ ông thường thấy ông có nhiều ngẫm nghĩ và dằn vặt. Và chính những ngẫm nhĩ, những dằn vặt ấy tạo ra vẻ đẹp riêng biệt của thơ ông:

"Ta là ai?", như ngọn gió siêu hình

Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt

"Ta vì ai?" khẽ xoay chiều ngọn bấc

Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh

(Hai câu hỏi)

Nhất là vào gia đoạn cuối đời, trước khi bước vào “xứ không màu”. Trong Di cảo, thơ Chế Lan Viên càng có nhiều day dứt:

Anh có cho tôi làm hoa sen không, tôi trong lý lịch có bùn?

Thân phận người mà, ai chả có bùn đen?

Giết chết một mùi hương, dễ thôi, cứ quậy bùn lên để giết

Nhưng vượt lên bùn, sen cứ ngát hương sen

(Hương sen)

Về cái chết:

Thi sĩ, người làm ra lửa như Prométhée là kiểu ban đầu

Kiểu về cuối là kiểu Mo-ri-xơn hay Thích Quảng Đức

Anh ta lấy tất cả những lo âu, suy tư, hạnh phúc, khổ đau một đời làm củi

Có khi nhen nhóm cả một đời mới thiêu được một mồi

Ngồi lên chất liệu đời mình

Rót vào đấy xăng của thời đại

Rồi lấy mình ra làm lửa châm vào

Bài thơ rực cháy

Không còn chữ, còn câu, còn vần, còn âm điệu

Mà là lửa, toàn bài là lửa

Cho đến tro tàn từng chữ cũng thiêng liêng

Lửa đa nghĩa, phóng ra ánh sáng hào quang đi bốn phía

(Giàn hỏa)

Về trách nhiệm của người cầm bút:

Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng

Chỉ một đêm, còn sống có 30

Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?

Tôi! Tôi - người viết những câu thơ cổ võ

Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong

Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm

Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ

Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ

Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!

Ai chịu trách nhiệm vậy?

Lại chính là tôi!

Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời

Tôi ú ớ

Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong

Mà tôi xấu hổ

Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay

Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ

Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười

(Ai? Tôi?)

Nhưng sau chót vẫn là một niềm yêu đời đau đáu ngay cả khi mất đi rồi:

Thôi không còn chờ mùa hoa phía trước

Mà ngoái đầu nhẩm lại các mùa hoa phía sau

Đấy là quy luật

Nhận mà không đau

 

Nhớ từ mùa hoa trong vườn mẹ

Lúc ấy là mai hay đào?

Lại nhớ mùa hoa xoan xứ Huế

Màu ngọc hồng trong chiêm bao...

 

Thôi cho ta khỏi đếm từng mùa hoa một

Ta có còn nó đâu?

Không phải hoa khuất mà ta khuất

Ta đi vào xứ không màu.

 

Cảm ơn một mùa ở trên trái đất

Cái hành tinh không vắng lặng giữa thiên hà

Không phải chỉ vì có hơi người ấm áp

Mà vì còn có các mùa hoa.

 

Dù là một chiếc hoa dại hoa vườn nhỏ nhặt

Ở trong cõi không màu, ta vẫn thấy nó từ xa.

(Các mùa hoa)

Đọc những câu thơ như thế này lòng ai không xúc động? Không muốn tận hưởng trọn cuộc đời và có trách nhiệm hơn?

Có lẽ vì thơ tự do không có một quy cách, một khuôn hình cụ thể nào cho nên những người làm thơ nghiệp dư, những người tập làm thơ thường ít vận dụng. Phổ biến là họ đi vào lục bán vì lục bát có cảm giác vừa quen vừa dễ. Một số “chịu chơi” hơn, cao thủ” hơn mới đi vào Đường luật. Nhưng gò được những con chữ vô sừng, vô sẹo vào cái khuôn hình hẹp vanh vanh và vuông chành chạnh của thơ Đường luật đâu có dễ. Gặp chỗ gay cấn có khi cũng vã cả mồ hôi mới “nhồi” được con chữ vào cái khuôn niêm, luật. Mà thơ đã gò ép gượng gạo thì đọc khô như ngói. Nhưng khó thế nào thì khó song làm thơ lục bát hay Đường luật vẫn có cái phao để mà bám vào. Có bơm đày chữ vào cái bao lục bát, bơm đày chữ vào cái bao Đường luật là có cảm giác bài thơ đã hoàn thành. Còn làm thơ tự do thì bơm chữ vào đâu? Làm thơ tự do y như người bơi vo vậy. Nếu không biết tự mình làm cho mình nổi là chết chìm ngay. Chó nên ít người dám “chơi” thơ tự do. Ít thôi chứ không phải là không có. Trên một trang Web, blog do một số “trò cũ” của Trường THPT Chí Linh chủ trương, tôi đọc được một số bài thơ tự do rất chững chạc. Xin chép ra đây để bạn đọc cùng tham khảo.

Bài thứ nhất là bài “Nắng làng Mo” của nguyễn Tô Quang, một cựu chiến binh, một nông dân làng Mo:

Em trở về thăm tôi chiều thu

Nắng làng Mo rang rừng lá đỏ

Hoa lựu lập loè cuối vườn lỗ chỗ

Ngọn gió gầy heo hắt phía sườn non

 

Em thương tôi tóc muối mầu sương

Đêm ít ngủ ra vào lẩn thẩn

Di sản chiến tranh in vàng da nếp trán

Chiều nhạt nhoà vàng chất Đi-ô-xin

 

Em thì thầm môi mọng đỏ niềm tin

Nhà dù thấp có núi cao làm rộng

Vò rượu bé đủ hâm lòng cháy bỏng

Cứ vui buồn câu thơ tìm nhau

 

Dăm ba chữ lỏng chẳng văn chương

gì đâu

Mà ấm áp là trái tim bè bạn

Đôi câu nhâm nhi với vài khoảng lặng

Nửa cái nhìn cũng đủ hiểu lòng nhau

 

Em đọc thơ để đưa tôi về đâu

Cuộc trần tục có đếm đong nặng nhẹ

Cứ bớt tỉnh đi cho đời được khoẻ

Thấm đẫm tình người sẽ thấy

nắng chiều thu.

 

Và bài thứ hai “Bốn mươi năm một chặng đường để nhớ” cũng của một cựu chiến binh:

Đất nước chiến tranh

Chúng tôi học hành dang dở

Chưa là thầy

Không là thợ.

Nhập ngũ ngày 13 tháng 5.

 

Sông Kinh thầy mùa ấy nước xanh trong

Bến Vạn, xã Tân dân tiễn chúng tôi vào lính

Những chuyến đò chở nặng

Cứ nghiêng về một bên

Phía bờ có những người thân

Những bàn tay vẫy mãi

Chúng tôi đi và hẹn ngày trở lại

Thấm thoát đã 40 năm…

 

Sau mấy ngày đầu ở Dạ Sơn

C3 về Lê Linh,Lê Xá

Như bao đợt luyện quân, chúng tôi tập tành vất vả

Học bắn súng, đâm lê, tập đội ngũ, ắc-ê

Tập hành quân mang nặng

Tất cả hướng tới ngày ra trận

 

Đất đồi Kinh Môn, chúng tôi tập đào hầm

Sáng, chưa,chiều tập gùi gạch trên lưng

Doanh trại là nhà dân, hội trường là sân hợp tác

Là nơi tập chung sinh hoạt

Học những bài chính trị đầu tiên

Chính trị viên Như giảng bài và hay cầm nhịp hát

Đại đội trưởng Vượng hô “nghiêm”,nghe như tiếng gầm của cọp

Đại đội phó Doãn cao to, chuyên việc hậu cần

Bữa ăn thì bày trên sân

Sáu đứa một mâm, hai xoong, một đĩa

Cơm đâu mà no bụng trẻ

Nhiều cậu ăn nhanh rồi vòng đánh “tăng hai”

Bà con thương dành cho đĩa sắn, rổ khoai

Chúng tôi có thêm cha, thêm mẹ

Còn nhiều hơn thế nữa

Có chàng còn tìm được người yêu

Chẳng có mấy thời gian gặp nhau…

Thế là bỏ gác

Thế là lại khổ thêm cho bao người khác

Đang đêm báo động, đi tìm…

 

Cứ thế, chúng tôi cứ thế luyện rèn

Như mũi giáo, lưỡi gươm mài sắc

Như những đại bàng non tập bay trên đất

Chờ ngày thẳng cánh cao xanh…

Ba tháng huấn luyện trôi nhanh

Chúng tôi được tung vào cuộc chiến

Đêm tiễn biệt ga “Tiền Trung”biết bao bịn rịn

Nhiều nước mắt đã rơi

Những chàng lính tuổi 18 đôi mươi

Có người khóc òa như con trẻ

Chuyến tàu không đèn lao trong đêm vội vã

Từ ấy chúng tôi đi …

 

Sông Kinh Thầy lại vào mùa nước

Lũ dọa vỡ đê Nam Sách

Tiếng trống hộ đê dồn dập đêm ngày

Theo chúng tôi vào tận Trường Sơn

Người ở nhà, người ra đi nào ai biết khổ hơn

Nước lụt ngang trời ba tháng

Nhà cửa, ruộng, vườn ngâm trong nước trắng

Mẹ tôi gầy, thầm khóc hàng đêm

Mẹ thương mấy đứa em không đủ cái ăn

Mẹ thương con trai mình vừa ra mặt trận

Mẹ thương cha suốt nhiều đêm ngồi như pho tượng

Cha càng gầy, hai mắt lõm sâu

 

Lúc ấy chúng tôi đang ở đâu ?...

Chiến trường rất rộng

Chiến trường nhiều bom đạn

Chúng tôi còn rất ngu ngơ

Bỏ lại sau lưng những năm tháng tuổi thơ

Chúng tôi buộc mình phải lớn

Như vừa mới hôm qua,cuộc đời một thoáng

Ngoảnh lại nhìn đã 40 năm…

Chúng tôi giờ nhiều người đã lên ông

Nội, ngoại, gái, trai đầy đủ

Có người còn nhiều lam lũ

Có người đã về với trời xanh

Ký ức những ngày đầu tiên

Chúng tôi còn giữ mãi

Cứ dịp tháng 5 lại háo hức tìm về đồng đội

Chỉ để nhìn thấy mặt nhau

Hỏi thăm vài câu

Thế là sung sướng

Người hôm nay đeo quân hàm cấp Tướng

Hay lo ruộng vườn làm bác nông dân

Tất cả chúng tôi đều là lứa đồng ngũ tháng Năm

Cùng chung một ngày để nhớ

Nhớ những ngày đầu tập làm chiến sĩ

Thế mà đã Bốn Mươi Năm…

13.5.2011

Đọc những bài thơ này, tôi có cảm giác các tác giả của nó, khi làm thơ họ chỉ chép lòng mình ra trang giấy. Cho nên nó tự nhiên và rất truyền cảm. Họ chẳng vướng bận gì đến niêm luật... Nhưng họ có nỗi niềm và thật sự muốn chia sẻ. Vậy thôi!

ĐỖ ĐÌNH TUÂN

Thống kê truy cập

Số người online : 76

Số lượt truy cập : 12209588